Cần phải làm gì khi bị ‘lật kèo’ mua bán đấ

Bạn đọc hỏi: Tôi mua mảnh đất gần 2 tỷ đồng và đã trả 1,5 tỷ đồng. Số tiền còn lại sẽ hoàn tất thanh toán khi bên bán sang tên ‘sổ đỏ’ cho tôi. Nhưng ngay sau đó, bên bán lại bán mảnh đất (đã bán cho tôi) cho người khác và người này đang làm thủ tục sang tên ‘sổ đỏ’. Xin hỏi luật sư, tôi phải làm thế nào để bảo vệ tài sản của mình? Nguyễn Văn Hưng (Hà Nội)

Việc chuyển dịch quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản tại tổ chức hành nghề công chứng và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký biến động đất đai tại cơ quan có thẩm quyền

Luật sư xin tư vấn như sau:

Khi bạn mua đất và đã giao tiền cho bên bán 1,5 tỷ đồng nhưng không rõ 2 bên có lập giấy tờ bằng văn bản gì không và lập như thế nào, lập viết tay hay đã qua tổ chức công chứng. Xung quanh việc mua bán đất đai, chúng tôi xin nêu ra các quy định cơ bản của pháp luật để bạn tham khảo.

Cụ thể, theo quy định của pháp luật thì việc chuyển dịch quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản tại tổ chức hành nghề công chứng và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký biến động đất đai tại cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, nếu bạn đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là 2 bên thực hiện lập văn bản chuyển dịch tài sản tại tổ chức hành nghề công chứng và chưa hoàn thiện để sang tên bạn mà người đó lại chuyển nhượng cho người khác thì người bán đó đã vi phạm thỏa thuận giao kết hợp đồng giữa hai bên. Còn nếu 2 bên chỉ mua bán bằng giấy viết tay mà chưa qua tổ chức hành nghề công chứng và bạn đã thanh toán 1,5 tỷ đồng trên tổng giá trị 2 tỷ đồng, tức là đã thanh toán được trên 2/3 nghĩa vụ do 2 bên thỏa thuận thì theo quy định tại Điều 129 – Bộ luật Dân sự năm 2015, khi các bên tranh chấp và kiện đến tòa án sẽ căn cứ vào thực tế, ý chí, thỏa thuận của các bên tòa án sẽ xém xét, quyết định việc mua bán đất đó có bị vô hiệu hay không.

Theo đó, Điều 129 – Bộ luật Dân sự quy định, giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ các trường hợp:

– Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

– Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Với trường hợp của bạn, người bán đất đã bán cho bạn và nhận tiền nhưng sau đó lại bán thửa đất đó cho người khác. Nếu việc giao kết đã rõ ràng mà người đó “lật kèo” bán cho người khác thì hai bên sẽ thỏa thuận giải quyết hậu quả của việc “lật kèo” này. Trường hợp người bán “lật kèo” và chiếm đoạt số tiền của bạn thì tùy theo tính chất, mục đích, động cơ của hành vi chiếm đoạt, người bán đất có thể bị xử lý hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại các Điều 174 và Điều 175 – Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ phân tích trên, có thể thấy, để bảo vệ quyền lợi của mình, trước tiên bạn cần có đơn ngăn chặn chuyển dịch tài sản gửi đến cơ quan có thẩm quyền như Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tư pháp, UBND xã, phường nơi có tài sản. Mặt khác, nếu là quan hệ dân sự thì bạn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền nơi có tài sản giải quyết. Trường hợp có dấu hiệu hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì bạn làm đơn trình báo hay đơn tố giác gửi đến Cơ quan điều tra Công an cấp quận, huyện nơi diễn ra giao dịch giữa 2 bên để giải quyết theo quy định pháp luật.

Trên đây là nội dung liên quan đến thắc mắc của anh/chị. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Đòi lại tiền cho vay khi đã hết thời hiệu khởi kiện

Câu hỏi: Luật sư cho tôi hỏi hết thời hiệu khởi kiện rồi thì làm sao để đòi lại tiền cho vay được ạ? Mong Luật sư tư vấn giúp tôi với ạ. Tôi xin cảm cơm (Bà Thanh – Phúc Yên, Vĩnh Phúc)

Luật sư xin tư vấn như sau: 

Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015): Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Căn cứ quy định trên, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng X. và anh N.V.H đã hết.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2017, TA chỉ áp dụng quy định về thời hiệu và sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi TA cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết. Như vậy, đối với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng X. và anh N.V.H, khi thời hiệu khởi kiện đã hết, anh N.V.H có quyền yêu cầu TA áp dụng quy định về thời hiệu và TA sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của BLDS 2015, đối với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, Ngân hàng X. vẫn có thể khởi kiện anh N.V.H yêu cầu đòi lại tài sản là nợ gốc (không bao gồm phần lãi) và TA sẽ thụ lý, giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào việc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi TA cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không. Nội dung này đã được TANDTC hướng dẫn tại Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 2-8-2021.

Trên đây là nội dung giải đáp thắc mắc liên quan đến hết thời hiệu khởi kiện thì làm sao để đòi lại tiền đã cho vay. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Các trường hợp không được chứng thực bản sao

Hỏi: Tôi có Giấy khai sinh được cấp năm 1976 ở một tỉnh miền Bắc, vừa rồi tôi cần bản sao để bổ túc vào hồ sơ nhưng liên hệ đến UBND phường thì không được cơ quan này chứng thực, với lý do là con dấu bị mờ không còn rõ chữ. Các nội dung trên Giấy khai sinh của tôi đều đầy đủ, sáng rõ cả; tuy con dấu có hơi mờ nhưng tên của UBND địa phương nơi cấp đăng ký ở phía trên thể hiện đầy đủ. Trường hợp của tôi không được chứng bản sao có đúng không? Chị Võ Hoài Thu (thành phố Nha Trang)

Luật sư xin tư vấn như sau:

Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính. Đó là một trong những nội dung chứng thực được quy định tại Nghị định số 23/2015 của Chính phủ. Trong việc chứng thực bản sao, nghị định có quy định các trường hợp bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao, gồm:

1. Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ.

2. Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung.

3. Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp.

4. Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.

5. Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định.

6. Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Con dấu trên Giấy khai sinh xác thực cơ quan cấp đăng ký khai sinh cho bạn nếu bị mờ chữ sẽ không xác định được cơ quan cấp. Do đó, UBND phường từ chối chứng thực bản sao là có cơ sở.

Trên đây là nội dung liên quan đến những những trường hợp không được chứng thực bản sao. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp được pháp luật quy định như thế nào?

Bạn Kiều Hoa (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) có hỏi: Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp được pháp luật quy định như thế nào?

Luật sư xin tư vấn như sau:

Vấn đề bạn hỏi được quy định tại Điều 324, Bộ luật Dân sự hiện hành. Cụ thể như sau:

1. Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các quyền sau đây:

a) Được khai thác công dụng tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận;

b) Được trả thù lao và chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp; nếu làm mất tài sản thế chấp, làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp thì phải bồi thường;

b) Không được tiếp tục khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp;

c) Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Trên đây là quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Làm sao để biết đất có tranh chấp, thuộc diện quy hoạch hay không?

Đất có nằm trong vùng quy hoạch hay đang xảy ra tranh chấp hay không là điều quan tâm của nhiều người khi có dự định mua đất.
Theo quy định người dân có quyền biết thông tin về đất đai (trừ danh mục tài liệu mật về đất đai thuộc danh mục tài liệu bí mật nhà nước theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an) như:- Danh mục dữ liệu có trong cơ sở dữ liệu đất đai

– Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

– Khung giá đất, bảng giá đất đã công bố

– Thông tin về các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai

– Các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai

Hệ thống thông tin đất đai rất đa dạng nhưng người dân khi nhận chuyển quyền sử dụng đất (mua đất, chuyển đổi…) thì cần biết dữ liệu về một thửa đất cụ thể để tránh rủi ro.

Tuy nhiên, người có yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai phải ghi rõ mục đích sử dụng dữ liệu và cam đoan không sử dụng dữ liệu được cung cấp trái với quy định của pháp luật.

Trường hợp cơ quan Nhà nước từ chối cung cấp dữ liệu đất đai thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

Xác định đất có nằm trong vùng quy hoạch ở đâu?

Với thông tin quy hoạch, thì cơ quan phòng Tài nguyên của huyện, nơi mảnh đất tọa lạc sẽ nắm thông tin này và sẽ cung cấp thông tin khi có yêu cầu của người dân.

Căn cứ Khoản 2 Điều 49 Luật đất đai 2013 quy định về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:

Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trên, nếu đất nằm trong diện quy hoạch đã được công bố nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất của mình. Nếu đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất phải phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch.

Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 49 Luật Đất đai 2013, diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.

Đất đang có tranh chấp sẽ không được thực hiện quyền chuyển nhượng

Theo Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định, người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

– Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này.

– Đất không có tranh chấp.

– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

– Trong thời hạn sử dụng đất.

Như vậy, người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền chuyển nhượng mảnh đất này khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên.

Để biết được đất có tranh chấp hay không thì người mua có thể hỏi, tìm hiểu qua các nguồn sau đây:

– Các chủ đất liền kề của thửa đất

– Cán bộ địa chính xã, tổ trưởng dân phố, trưởng thôn.

– Cùng với chủ đất đến phòng tài nguyên môi trường để hỏi về tình trạng pháp lý của thửa đất.

Trên đây là nội dung liên quan đến cách xác định đất có thuộc quy hoạch hay không. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

 

Siết chặt nghề môi giới nhà đất

Tới đây, các tổ chức cá nhân muốn hoạt động môi giới nhà đất phải lập doanh nghiệp, văn phòng và phải có chứng chỉ hành nghề…

Trước thực trạng bát nháo của hoạt động môi giới bất động sản (BĐS), Bộ Xây dựng đã đưa quy định môi giới BĐS bắt buộc phải hoàn thành chương trình đào tạo của đơn vị được cấp phép mới được dự thi sát hạch lấy chứng chỉ và không cho cá nhân hoạt động môi giới độc lập… vào dự thảo sửa Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS 2014 để lấy ý kiến.

Thừa nhưng vẫn thiếu

Trong dự thảo này, Bộ Xây dựng thẳng thắn thừa nhận hạn chế trong kinh doanh dịch vụ môi giới BĐS là nguồn nhân lực thừa về số lượng nhưng thiếu về chất lượng.

Theo Bộ Xây dựng, Luật Kinh doanh BĐS 2014 quy định về điều kiện các tổ chức, cá nhân được kinh doanh dịch vụ môi giới BĐS, điều kiện được thi sát hạch về trình độ hiểu biết pháp luật, về kỹ năng hoạt động môi giới quá dễ dàng, không quy định buộc phải có giấy chứng nhận hoàn thành khóa học thì mới được dự thi lấy chứng chỉ.

Điều này đã dẫn đến tình trạng hiện nay đội ngũ làm môi giới BĐS yếu về chuyên môn, hiểu biết pháp luật hạn chế, chưa có tính chuyên nghiệp, yếu kém về đạo đức kinh doanh dẫn đến tình trạng làm ăn chụp giật, không chịu trách nhiệm, gây thiệt hại cho khách hàng khi tư vấn không đúng, tư vấn cho xong để kiếm tiền, thậm chí còn lũng đoạn thị trường, góp phần gây ra những cơn sốt ảo để kiếm lợi.

Luật cũng quy định cá nhân chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện có chứng chỉ hành nghề và đăng ký nộp thuế là có thể thực hiện dịch vụ môi giới BĐS, chưa bắt buộc các cá nhân này có trách nhiệm phải báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về các hoạt động của họ. Do đó, họ hoàn toàn có thể tự do hành nghề ở bất kỳ đâu, một là ăn theo các sàn giao dịch BĐS để lấy thông tin, làm cộng tác viên hoặc môi giới thứ cấp, hai là tự đi khai thác nguồn thông tin sản phẩm có nhu cầu bán và chủ yếu là nhà, đất ở có sẵn để môi giới cho khách hàng có nhu cầu mua. “Mục tiêu của họ chỉ là làm cách nào bán được sản phẩm nhanh và hiệu quả nhất và thường không có trách nhiệm với khách hàng, người tiêu dùng đối với các sản phẩm họ đã môi giới” – Bộ Xây dựng nhận định trong văn bản.

Báo cáo mới đây của Hội Môi giới BĐS Việt Nam cũng khẳng định có đến 90% môi giới BĐS hoạt động mà không có chứng chỉ hành nghề, trình độ, năng lực, hiểu biết về pháp luật còn nhiều yếu kém. Hầu hết môi giới tự do đều là nghiệp dư, tay ngang, không được đào tạo, không được quản lý nên tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả bên mua và bên bán. Khi xuất hiện nhiều ở khu vực nào đó dễ khiến thị trường BĐS nơi đó tăng nóng.

Từ thực tế trên, Bộ Xây dựng đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định người làm môi giới phải có giấy chứng nhận hoàn thành khóa học thì mới được thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới BĐS.

Cùng với đó, bổ sung các quy định các tổ chức, cá nhân hoạt động môi giới đều phải thành lập doanh nghiệp, văn phòng môi giới…; phải có chứng chỉ hành nghề môi giới BĐS, cá nhân không được hoạt động môi giới độc lập.

Bộ cũng đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định các tổ chức, cá nhân hành nghề môi giới BĐS trong nước sau khi thành lập doanh nghiệp phải cung cấp thông tin của đơn vị mình đến Sở Xây dựng nơi tổ chức mình hoạt động và Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS để được đăng tải công khai trên hệ thống quản lý của địa phương.

“Việc sửa đổi, bổ sung các quy định theo phương án này sẽ tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tính minh bạch cao. Cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát tốt thị trường, khắc phục được hiện tượng sốt ảo, “bong bóng” BĐS do các môi giới gây ra, từ đó, tránh thất thu thuế cho nhà nước” – Bộ Xây dựng lý giải.

Một cò đất dẫn khách đi xem đất ở huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, khu vực nằm trong diện bị Bộ Tài nguyên và Môi trường thanh tra vì tình trạng phân lô bán nền. 

Kiểm soát là cần thiết

Ông Phạm Lâm, Phó Chủ tịch Hội Môi giới Việt Nam, cho rằng những vấn đề Bộ Xây dựng nêu ra để đưa vào luật là rất phù hợp và cần thiết. Các cá nhân muốn làm môi giới cũng phải tham gia học chứng chỉ hành nghề, cần có pháp nhân để cơ quan chức năng quản lý theo quy định.

Đồng tình với những kiến nghị sửa đổi của Bộ Xây dựng nhưng chuyên gia BĐS, ông Trần Khánh Quang cho rằng điều cần nhất là sự minh bạch của cơ quan quản lý, chính quyền địa phương về dự án, đất đai nhiều hơn là chỉ siết môi giới. Bởi, việc giao dịch BĐS giữa người mua và bán nếu có trung gian thì tốt hơn. Tuy nhiên, môi giới có tốt mấy cũng chỉ giải quyết 50% vấn đề cho thị trường, quan trọng vẫn phải là pháp lý rõ ràng và công khai quy hoạch.

“Việc chuyên nghiệp hóa nghề môi giới cần phải có lộ trình. Một khi đã chuẩn hóa nghề theo khuôn khổ thì dần dần môi giới yếu kém cũng tự đào thải. Còn nếu chỉ tính đến siết môi giới mà không hoàn thiện pháp lý thì khách hàng sẽ bị thiệt hại. Vì thực tế hiện nay, nhiều pháp nhân được lập ra nhưng cố tình làm sai, lừa khách hàng với quy mô lớn còn để hậu quả khủng khiếp hơn cả cá nhân. Điển vụ công ty bất động sản Alibaba lừa đảo thời gian vừa qua” – ông Quang nêu quan điểm.

Ông Lâm cho biết việc cấp một mã số hành nghề cho môi giới là rất cần thiết để quy trách nhiệm và căn cứ vào đó để nâng chất lượng của nghề môi giới. Trong tương lai, cơ quan nhà nước có chuyên nghiệp hóa trong quản lý môi giới bằng cách ứng dụng nền tảng công nghệ, quản lý để một môi giới chỉ làm một công ty, làm việc tại một dự án để chuyên môn sâu. Vì có những môi giới làm 4-5 công ty khác nhau rất dễ ảnh hưởng đến chất lượng môi giới cũng như không rõ ràng, minh bạch…

Ông Lâm dẫn chứng các nước, cụ thể là Mỹ, người làm môi giới phải qua khóa đào tạo 180 giờ, sau đó làm việc tại các văn phòng giao dịch từ 2 năm trở lên mới được dự thi lấy chứng chỉ hành nghề môi giới. Đồng thời, cần thêm quy định bổ sung, cập nhật kiến thức hằng năm để hành nghề. “Quan trọng là tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc hành nghề môi giới BĐS đúng luật” – ông Lâm nhấn mạnh.

Theo Baomoi.com

Mua nhằm đất đã có chủ, kiện đòi ủy ban liên đới bồi thường

Trong vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất, nguyên đơn yêu cầu ủy ban liên đới bồi thường do cùng một mảnh đất mà cấp hai giấy chứng nhận cho hai chủ sử dụng.

TAND Cấp cao tại TP.HCM vừa nhận được kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ), hủy giấy chứng nhận (GCN) và bồi thường thiệt hại tại quận Tân Phú, TP.HCM.

Đáng chú ý trong vụ kiện này, nguyên đơn đòi UBND quận liên đới bồi thường thiệt hại.

Một mảnh đất cấp hai giấy chủ quyền

Tháng 5-2017, bà Hoàng Thị Thu Nga nhận chuyển nhượng QSDĐ diện tích 70,5 m2 tại thửa 367 tờ bản đồ 132, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú của vợ chồng ông Phạm Văn Dị Em. Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng. Giá trị trên hợp đồng thỏa thuận là 450 triệu đồng, thực tế thanh toán 1,82 tỉ đồng.

Việc thanh toán đã đầy đủ và cập nhật sang tên cho bà Nga trên GCNQSDĐ. Đất để trống đến tháng 3-2018 thì bà Nga phát hiện có người xây dựng trên đất. Qua tìm hiểu, bà Nga biết rằng người này cũng được cấp GCN đối với phần diện tích đất trên.

Sau khi bà Nga khiếu nại đến UBND quận, kết luận thanh tra xác định GCN cấp cho ông Em là sai…

Bà Nga khởi kiện, đề nghị tòa hủy hợp đồng chuyển nhượng và buộc UBND quận cùng vợ chồng ông Em liên đới bồi thường giá trị đất tại thời điểm xét xử cho bà vì có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi.

Tại phiên sơ thẩm, đại diện UBND quận Tân Phú cho rằng căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì yêu cầu buộc cơ quan này liên đới bồi thường thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện hoặc cơ quan chủ quản có cán bộ vi phạm. Từ đó, UBND đề nghị TAND TP.HCM không xét xử đối với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn.

HĐXX TAND TP.HCM cho rằng UBND nêu căn cứ đúng nhưng đề nghị này không được chấp nhận vì ngoài việc khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, nguyên đơn còn yêu cầu hủy GCN. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP.HCM. Đồng thời, để giải quyết triệt để vụ án, TAND TP.HCM thụ lý, giải quyết yêu cầu bồi thường trong cùng vụ án.

Ủy ban sai nhưng không liên quan đến việc chuyển nhượng

Theo tòa, từ kết luận thanh tra, nguồn gốc và quá trình cấp đổi GCN, đủ cơ sở xác định cùng một thửa đất, ông Em đã chuyển nhượng cho người khác, sau này lại tiếp tục xin cấp GCN và chuyển nhượng cho bà Nga là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu hoàn toàn thuộc về phía ông Em.

UBND quận Tân Phú đã có những sai phạm trong quá trình xác minh, dẫn đến việc nhận định lô đất này chưa được tách thửa và cấp GCN riêng; từ đó cấp GCN mà không phát hiện thửa đất trên trùng ranh hoàn toàn với thửa đất khác trong GCN cấp cho một người khác. Việc cấp GCN này là trái pháp luật.

Theo kết quả định giá, tiền chênh lệch giá thị trường sau khi trừ 2 tỉ đồng ông Em đã bồi thường trước đó là hơn 2,661 tỉ đồng. Về trách nhiệm bồi thường, HĐXX nhận thấy việc giao dịch giữa hai bên (đặt cọc) xảy ra trước khi có hành vi cấp GCN trái pháp luật của UBND quận Tân Phú. Toàn bộ số tiền đặt cọc cũng như tiền chuyển nhượng đất bà Nga đều giao cho phía ông Em.

Thiệt hại chỉ phát sinh khi ông Em ký hợp đồng, UBND không liên quan tới giao dịch này. Lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu là do vi phạm điều cấm của pháp luật hoàn toàn do vợ chồng ông Em gây ra nên ông bà phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại phát sinh.

Phía UBND quận Tân Phú không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ phát sinh giao dịch nhưng cũng không khỏi trách nhiệm trong công tác quản lý hành chính…

Từ đó, tòa tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng, hủy GCN. Vợ chồng ông Em phải bồi thường cho bà Nga. Tòa không chấp nhận việc yêu cầu UBND phải liên đới bồi thường.

Công chức sai phạm đã bị xử lý kỷ luật

HĐXX TAND TP.HCM nhận định chính sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan tham mưu cho UBND quận Tân Phú dẫn đến cùng một diện tích đất mà cấp hai GCN. Những sai phạm trong việc cấp GCN được thể hiện trong kết luận thanh tra. Cán bộ, nhân viên có hành vi vi phạm đã được UBND quận Tân Phú xử lý kỷ luật theo quy định…

Theo Baomoi.com

Cần làm gì khi bị mất sổ đỏ?

Tôi có việc cần dùng đến sổ đỏ nhà đứng tên mình, nhưng phát hiện sổ đã mất không rõ nguyên nhân. Giờ tôi phải làm sao, thưa luật sư? Nếu bị kẻ gian lấy mất thì tôi có bị mất nhà không? (Chị Nhung – Tây Hồ, Hà Nội)

Luật sư xin tư vấn như sau:

Trường hợp của bạn,  Luật sư chia làm hai tình huống:

Tình huống 1: Có kẻ gian đã lấy mất sổ đỏ để cầm cố (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của bạn và đã thực hiện một giao dịch nào đó. Người này không phải là chủ sở hữu của mảnh đất được ghi nhận trong sổ đỏ đó nên tại Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”

Theo đó, giao dịch dân sự của người này thực hiện có mục đích và nội dung trái đạo đức xã hội vi phạm điều cấm của pháp luật thì đều vô hiệu. Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. 

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Do đó, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên và các bên sẽ trả cho nhau những gì đã nhận. Vì thế, hành vi lấy sổ đỏ của bạn làm gì đó của kẻ gian khi không có sự đồng ý của chủ sở hữu mảnh đất là hành vi vi phạm pháp luật.

Tình huống này, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch dân sự giữa kẻ gian và người nào đó đang cầm sổ đỏ của bạn là vô hiệu. Sau đó, bạn sẽ lấy lại được sổ đỏ.

Tình huống 2: Nếu mất sổ đỏ thật thì bạn cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Bạn đến Công an xã, phường nơi mất Sổ đỏ làm thủ tục trình báo sự việc trên và đề nghị cấp Giấy tờ xác nhận việc mất Giấy chứng nhận của công an cấp xã, phường nơi mất.

Bước 2: Căn cứ vào Khoản 1, Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP: “Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn”.

Vì vậy, bạn phải làm đơn trình báo việc mất sổ đỏ với Ủy ban nhân dân (UBND) xã/phường nơi có đất để khai báo về việc Sổ đỏ. UBND xã/phường sẽ niêm yết thông báo mất Sổ đỏ tại trụ sở của UBND xã/phường nhằm mục đích tìm kiếm trong thời hạn 30 ngày.

Bước 3. Sau thời hạn niêm yết nếu vẫn không tìm được Sổ đỏ thì bạn tiếp tục nộp một bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Sổ đỏ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

– Đơn đề nghị cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

– Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp (đối với trường hợp cấp đổi) hoặc Bản sao hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thay cho bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận sau khi dồn điền đổi thửa, đo đạc lập bản đồ địa chính mà Giấy chứng nhận đã cấp đang thế chấp tại tổ chức tín dụng;

– Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; giấy tờ chứng minh đã đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về việc mất Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó. (đối với trường hợp cấp lại);

– Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);

Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký cấp lại Sổ đỏ; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và trao Sổ đỏ cho người được cấp hoặc gửi cho UBND cấp xã/phường để trao đổi với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã/phường.

Thời hạn Cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng bị mất không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (điểm q khoản 2 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP).

Trên đây là nội dung liên quan đến việc cần làm khi bị mất sổ đỏ. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

 

Làm ngay 3 điều này nếu mua phải đất dính quy hoạch

Do nóng vội, ham rẻ, không ít người xuống tiền đặt cọc hoặc ký kết hợp đồng mua bán xong mới phát hiện đất đó dính quy hoạch.

Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế – xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.

Đất thuộc quy hoạch đã có quyết định thu hồi thì không được chuyển quyền sử dụng đất (mua bán đất). Tuy nhiên, với đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có quyết định thu hồi thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, chủ đất có thể bị hạn chế một số quyền sử dụng đất song vẫn có thể bán đất. Trên thị trường, đất nằm trong diện quy hoạch thường có giá bán rẻ hơn.

Vì nóng vội, ham rẻ, không tìm hiểu kỹ, có những người mua sau khi đặt cọc hoặc ký hợp đồng mua bán xong mới phát hiện mảnh đất đó dính quy hoạch. Mua phải đất dính quy hoạch thường kèm theo nhiều phiền toái trong việc chuyển nhượng, tách thửa, xây sửa nhà cửa,… Nếu sau này đất bị thu hồi thì tiền bồi thường thấp hơn nhiều so với số tiền từng bỏ ra để mua thửa đất đó.

Do vậy, ngay khi phát hiện mình đã đặt cọc hoặc ký kết hợp đồng mua bán trúng mảnh đất dính quy hoạch, người dân cần làm ngay những điều sau đây.

Xác định người bán có mục đích lừa dối không

Như đã nói ở trên, đất thuộc quy hoạch đã có quyết định thu hồi thì không được chuyển quyền sử dụng đất (mua bán đất). Nếu chủ đất cố tình che giấu thông tin quy hoạch trên để rao bán, nhận tiền đặt cọc của bên mua thì đây là hành vi lừa dối, vi phạm pháp luật.

Điều 127, Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:

– Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

– Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Như vậy, nếu người bán che giấu thông tin đất dính quy hoạch đã có quyết định thu hồi, giao dịch đặt cọc sẽ bị vô hiệu. Bên mua có thể khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu do bị lừa dối. Trong trường hợp việc đặt cọc bị tòa án tuyên vô hiệu thì bên mua sẽ lấy lại được khoản tiền cọc.

Kiểm tra lại nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trong nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ có những điều khoản về thông tin thửa đất, thỏa thuận về giá chuyển nhượng, quyền và nghĩa vụ, cam kết của các bên,… Bên nhận chuyển nhượng (người mua) cần kiểm tra trong hợp đồng có nội dung cam kết về việc đất không thuộc quy hoạch không.

Nếu trong hợp đồng có cam kết của bên bán về việc đất không thuộc quy hoạch thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán trả lại tiền. Trường hợp bên bán không đồng ý trả lại tiền thì bên mua có quyền khởi kiện.

Nếu trong hợp đồng không có cam kết của bên bán về việc đất không thuộc quy hoạch thì bên mua phải chấp nhận vì nội dung do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp bên mua chứng minh được bị lừa dối.

Nắm rõ quyền sử dụng đất

Mua đất quy hoạch có thể tồn tại nhiều rủi ro nhưng trong nhiều trường hợp nó cũng là cơ hội. Bởi đất thuộc diện quy hoạch thường được rao bán với giá rẻ hơn mức giá chung của thị trường. Quy hoạch có thể thay đổi theo thời gian tùy theo tình hình sử dụng đất tại địa phương nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn, cho nên trong tương lai quy hoạch liên quan đến mảnh đất cũng có thể bị dỡ bỏ hoặc có thay đổi.

Hơn nữa, đất thuộc diện quy hoạch, tùy từng trường hợp chủ đất vẫn có rất nhiều quyền sử dụng. Khi đã mua phải mảnh đất dính quy hoạch, người mua cần nắm rõ những quyền và nghĩa vụ của mình.

Cụ thể, khi mua phải đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì chủ đất vẫn được tiếp tục sử dụng, được thực hiện quyền chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế… nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì chủ đất phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch; được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới công trình, nhà ở, trồng cây lâu năm. Nếu có nhu cầu sửa chữa, cải tạo nhà ở, công trình hiện có thì phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khoản 33, Điều 1, Luật Xây dựng sửa đổi năm 2020 có quy định, sau 3 năm kể từ ngày công bố kế hoạch sử dụng đất hàng năm nhưng chưa có quyết định thu hồi thì người sử dụng đất có quyền đề nghị cấp giấy phép xây dựng có thời hạn.

Chủ đất cũng sẽ được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy hoạch nếu đảm bảo đủ các điều kiện.

Theo Baomoi.com

Giấy ủy quyền nhà đất cho con có được xem là di chúc không?

Theo quy định, cá nhân ủy quyền chết là một trong những trường hợp dẫn tới chấm dứt quan hệ ủy quyền nhà đất
Căn cứ Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Còn hợp đồng ủy quyền được quy định tại Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Điều 563 Bộ luật Dân sự quy định: Thời hạn ủy quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 1 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.

Cũng theo Bộ luật Dân sự hiện hành thì Hợp đồng uỷ quyền chấm dứt trong các trường hợp:

1. Hợp đồng uỷ quyền hết hạn

2. Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành

3. Bên uỷ quyền, bên được uỷ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật Dân sự.

4. Bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Như vậy, cha mẹ có thể ủy quyền sử dụng đất cho con cái tuy nhiên giấy ủy quyền này không phải là di chúc và quan hệ ủy quyền sẽ chấm dứt khi người ủy quyền chết. Do đó, nếu không để lại di chúc thì khi cha mẹ chết đi tài sản sẽ được chia theo pháp luật cho những đồng thừa kế.

Di sản thừa kế này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất theo Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Theo Baomoi.com

Rủi ro mua bán nhà đất: Có hợp đồng công chứng nhưng không sang tên sổ đỏ

Dù đã công chứng hợp đồng mua bán nhà đất, chuyển hết tiền nhưng bên mua vẫn có thể gặp rủi ro: Bên bán không giao sổ đỏ, không hợp tác hoàn thiện thủ tục sang tên hoặc thủ tục sang tên bị từ chối vì lỗi của bên bán…

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất) là bên bán trao quyền sử dụng đất cho bên mua, còn bên mua thanh toán số tiền tương đương với giá trị mảnh đất mà hai bên đã thỏa thuận. Hợp đồng mua bán đất phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ ngày công chứng. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực, hai bên phải tiến hành sang tên sổ đỏ. Đây là thủ tục đăng ký biến động đất đai, tức bên bán chuyển quyền sử dụng đất cho bên mua.

Nhiều trường hợp đã ký hợp đồng mua bán có công chứng nhưng bên mua chưa thể sang tên sổ đỏ do lỗi của bên bán (Ảnh minh họa)

Trong thực tế, có trường hợp bên mua và bên bán đã ký hợp đồng mua bán đất có công chứng, bên mua đã chuyển đủ tiền cho bên bán nhưng sau đó bên bán không giao sổ, không phối hợp để thực hiện thủ tục sang tên. Cũng có trường hợp bên mua khi làm thủ tục sang tên sổ đỏ thì bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ chối vì lỗi của bên bán như: nhà xây dựng khác với giấy phép, không đúng với sổ đỏ; bên bán có nợ nần nên không được phép chuyển nhượng nhà đất…

Rơi vào các trường hợp trên, bên mua khó có thể hoàn thiện thủ tục sang tên, xét về mặt pháp lý tức là bên mua không được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 39 Luật kinh doanh bất động sản 2014, nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bên bán) như sau:

– Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về quyền sử dụng đất và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.

– Chuyển giao đất cho bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đủ diện tích, đúng vị trí và tình trạng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng.

– Làm thủ tục đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên nhận chuyển nhượng, trừ trường hợp bên nhận chuyển nhượng có văn bản đề nghị tự làm thủ tục cấp giấy chứng nhận.

– Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

– Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Các nghĩa vụ khác trong hợp đồng.

Theo quy định của pháp luật, các giao dịch về bất động sản được công chứng sẽ được đảm bảo về hình thức, tạo điều kiện để các giao dịch đó tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các bước tiếp theo.

Trường hợp chủ đất không giao sổ đỏ hoặc không hợp tác để thực hiện việc sang tên đổi chủ cho bên mua dù hai bên đã ký kết hợp đồng mua bán có công chứng thì hợp đồng công chứng sẽ có giá trị là chứng cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp.

Theo Luật công chứng 2014, hợp đồng được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Với trường hợp nêu trên, bên bán đã có hành vi không thực hiện nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng.

Để giải quyết, hai bên cần thỏa thuận thương lượng hòa giải, nếu không thể hòa giải thì bên mua có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu công nhận giao dịch chuyển nhượng, làm căn cứ để Văn phòng Đăng ký đất đai ghi nhận quyền sử dụng đất cho bên mua.

Dính tranh chấp, phải khởi kiện khi mua nhà đất chắc chắc là điều không người mua nào mong muốn. Để phòng ngừa tình trạng trên, trong hợp đồng mua bán nhà đất, bên mua có thể bổ sung điều khoản nêu rõ trong trường hợp do lỗi của bên bán dẫn đến bên mua không thể sang tên trên sổ đỏ, hoặc sang tên chậm trễ thì bên bán phải bồi thường thiệt hại và bị phạt một mức tiền nào đó.

Ngoài ra, bên mua có thể thỏa thuận với bên bán là thanh toán trước 95% tiền mua nhà đất, phần còn lại 5% sẽ thanh toán khi hoàn thành thủ tục sang tên sổ đỏ.

Theo Baomoi.com

Mua xe về chưa đi, đăng ký giấy tờ xe muộn có được không?

Câu hỏi: Luật sư cho em hỏi, bố mẹ em vừa mua xe máy. Tuy nhiên, vì còn chiếc xe cũ đi quen và cũng chưa dùng đến xe mới mà vẫn để trong nhà. Em cũng đang bận nhiều việc, bố mẹ thì không biết đăng ký xe. Em định 2 tháng sau mới đi đăng ký có bị làm sao không ạ. (Anh Thịnh – Đống Đa, Hà Nội)

Luật sư xin tư vấn như sau:

Căn cứ quy định tại Khoản 2 và Khoản 4 Điều 6 Thông tư 58/2020/TT-BCA cấp thu hồi đăng ký biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau;

“2. Đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra đối với xe đăng ký lần đầu, xe đăng ký sang tên, xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn. Trước khi cải tạo xe, thay đổi màu sơn (kể cả kẻ vẽ, quảng cáo), chủ xe phải khai báo trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông tại mục khai báo cải tạo xe, thay đổi màu sơn hoặc trực tiếp đến cơ quan đăng ký xe và được xác nhận của cơ quan đăng ký xe thì mới thực hiện; làm thủ tục đổi lại Giấy chứng nhận đăng ký xe khi xe đã được cải tạo hoặc khi thay đổi địa chỉ của chủ xe.

4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe thì tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký, biển số.”

Như vậy, trong thời hạn 30 ngày bạn phải đi đăng ký cho xe dù xe bạn có đi hay không. Nếu quá thời gian quy định nên trên, khi thực hiện việc đăng ký xe sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP:

“Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô”.

Vì vậy dù có sử dụng hay chưa bạn cũng cần thực hiện thủ tục đăng ký sang tên trong thời hạn pháp luật quy định.

Trên đây là nội dung liên quan đến thười hạn thực hiện đăng ký xe tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và hậu quả khi đăng ký muộn. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com