Thời gian hợp lý để Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Tác giả: Luật Hiệp Thành Đăng ngày: 28/05/2021 Lượt xem: 32 Chuyên mục: Tố Tụng Tại Toà

Câu hỏi:

Anh T.X.T ở Hà Nội có gửi câu hỏi đến Công ty luật như sau:

Trong vụ án hình sự do Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn thụ lý có tôi là bị hại. Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng khi tôi được nhận Quyết định chỉ trước ngày chính thức xét xử vụ án 1 ngày. Chính vì sự quá gấp gáp này khiến cho luật sư bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của tôi không thể có mặt tại phiên xét xử. Bản án sơ thẩm của vụ án đó đã được Hội đống xét xử ra.

Tôi xin hỏi, nếu tôi kháng cáo Bản án trên thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xử lý như thế nào?

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Hiệp Thành, câu hỏi của bạn được chuyên gia nghiên cứu và tư vấn như sau:

  1. I. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13;

  1. Nội dung
  2. Việc giao, gửi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 286 Bộ luật Tố tụng hình sự:

“Điều 286. Việc giao, gửi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

  1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa.

Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo…”

Như vậy, việc gửi cho bị hại trước 1 ngày mở phiên tòa là vi phạm thủ tục tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 286 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Khái niệm bị hại và quyền của bị hại

Theo quy đinh tại  khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự:

“Điều 62. Bị hại

  1. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra…”

Điểm h, i khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về một số quyền của bị hại:

“Điều 62. Bị hại

  1. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

  1. h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
  2. i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;…”

Như vậy, việc không tuân thủ trình tự giao thông báo cho bị hại về ngày diễn ra phiên xét xử đã khiến cho bị hại không thực hiện được một số quyền quy định tại điểm h, i khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự nên có cơ sở để cho rằng vi phạm này đã xâm phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự thì:

“Điều 355. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm

  1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
  2. a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
  3. b) Sửa bản án sơ thẩm;
  4. c) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
  5. d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;

đ) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm…”

Tại khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

“Điều 358. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

  1. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:
  2. a) Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;
  3. b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
  4. c) Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội;
  5. d) Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;

đ) Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này…”

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự thì có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới.

Vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm.

Trên đây là nội dung quy định về tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Luật gia Đỗ Trần Khởi
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Đối tác