Khái niệm tác phẩm

Tác giả: Luật Hiệp Thành Đăng ngày: 10/04/2021 Lượt xem: 38 Chuyên mục: Sở Hữu Trí Tuệ

Câu hỏi:

Giải đáp thắc mắc tại Công văn số **8/2021/HTLF**  tôi xin được tóm tắt câu hỏi như sau:

Yêu cầu Interco giải thích khái niệm tác phẩm.

Dưới đây là tóm lược nội dung giải đáp thắc mắc tại Công văn trên:

  1. I. Cơ sở pháp lý

– Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 36/2009 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ số 42/2019/QH14;

– Công ước Bơn ngày 15 tháng 4 năm 1994 giữa các quốc gia thuộc Liên hiệp quốc về việc bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật;

  1. Nội dung

Tác phẩm và cùng với nó là định nghĩa tác phẩm vì vậy giữ một vai trò then chốt trong xây dựng và thực thi luật quyền tác giả. Bước đầu tiên khi xử lý bất kỳ một tranh chấp nào về quyền tác giả cũng là việc trả lời câu hỏi: đối tượng tranh chấp có phải là tác phẩm theo định nghĩa của luật quyền tác giả hay không?

Cơ sở lý luận là gì? Công thức viết cơ sở lý luận đầy đủ - chặt chẽ

  1. Khái niệm tác phẩm

Theo nội dung Công ước Bơn (Berne) năm 1971 giữa các quốc gia thuộc Liên hiệp quốc về việc bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật tại khoản 1 và 2 Điều 2 quy định:

Điều 2

(Tác phẩm được bảo hộ: 1. Tác phẩm văn học và nghệ thuật;  2. Khả năng yêu cầu sự định hình; 3. Tác phẩm phái sinh;  4. Văn bản chính thức; 5. Sưu tập; 6. Nghĩa vụ bảo hộ, chủ thể hưởng sự bảo hộ;  7. Tác phẩm mĩ thuật ứng dụng và kiểu dáng công nghiệp; 8. Tin tức.)

  1. Thuật ngữ “Các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học.
  2. Tuy nhiên, luật pháp Quốc gia thành viên của Liên hiệp có thẩm quyền quyết định không bảo hộ các tác phẩm nói chung hoặc những thể loại cụ thể nào đó, trừ phi các tác phẩm ấy đã được ấn định bằng một hình thái vật chất…

Có thể nhận định, luật pháp sở hữu trí tuệ bảo hộ định nghĩa tác phẩm là các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào.

Nội dung Công ước không định nghĩa cụ thể khái niệm tác phẩm mà theo quy định khoản 2 Điều 2 sẽ nhường chỗ cho pháp luật quốc gia.

Với pháp luật Việt Nam, theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 năm 2019:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

  1. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào…

Như vậy, tác phẩm theo định nghĩa của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Có thể nhận thấy, phạm vi của tác phẩm là rất rộng và do quyền tác giả phát sinh từ quan hệ tác giả – tác phẩm phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan công quyền, không cần một thủ tục đăng ký nào.  Nếu không có hạn chế đối với tác phẩm thì hoạt động thường ngày của xã hội sẽ bị ngừng trệ vì chờ mọi người xin phép lẫn nhau.

  1. Điều kiện tiên quyết của tác phẩm

Vì phạm vi bảo hộ của tác phẩm là rất rộng nên phải có những hạn chế nhất định để giải quyết một số vấn đề sau:

– Các hoạt động không có tính sáng tạo, chỉ mang tính chất tự động hoặc thường nhật thì không được coi là tác phẩm;

– Các hoạt động thuần túy máy móc thì không được coi là tác phẩm;

– Các sáng tạo tinh thần không được thể hiện dưới dạng mà con người có thể tiếp cận thì không được coi là tác phẩm. Tuy nhiên một sản phẩm sáng tạo tinh thần không cần phải được thể hiện trong một hình thức hoàn chỉnh mới được công nhận là một tác phẩm. Các bản nháp diễn văn, phác thảo âm nhạc, thơ , ngay cả những phác thảo đồ họa có tính chất tạm thời trên máy tính cũng có thể được công nhận là tác phẩm;

– Sản phẩm được coi là tác phẩm phải là kết qủa sự sáng tạo tinh thần của tác giả. Nó phải mang dấu ấn riêng biệt của năng lực sáng tạo của tác giả;

Dù có khác nhau trong cấu trúc câu hay cách dùng từ, nhưng về cơ bản, định nghĩa thế nào là một tác phẩm có thể được bảo hộ quyền tác giả của hầu hết các quốc gia đều giống nhau với 04 điều kiện tiên quyết (yếu tố cấu thành tác phẩm có khả năng được bảo hộ quyền tác giả) là:

  1. a) Sự sáng tạo của con người;
  2. b) Mang một nội dung tinh thần;
  3. c) Thể hiện trong một hình thức mà con người có thể tiếp cận;
  4. d) Mang đặc trưng riêng của tác giả.

Vậy, luật pháp sở hữu trí tuệ bảo hộ định nghĩa tác phẩm là các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào với 04 điều kiện tiên quyết (yếu tố cấu thành tác phẩm có khả năng được bảo hộ quyền tác giả) là: sự sáng tạo của con người, mang một nội dung tinh thần, thể hiện trong một hình thức mà con người có thể tiếp cận, mang đặc trưng riêng của tác giả.

Trên đây là nội dung quy định về . Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Luật gia Đỗ Trần Khởi
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Đối tác