Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện     

Tác giả: Luật Hiệp Thành Đăng ngày: 15/03/2021 Lượt xem: 290 Chuyên mục: BM Tố tụng tại toà , Tố Tụng Tại Toà
  1. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;

– Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn Quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ Luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ Luật tố tụng dân sự;

  1. Nội dung

Trả lại đơn khởi kiện là một hành vi pháp lý của Tòa án đối với đơn khởi kiện của nguyên đơn. Để làm rõ các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì ta cần làm rõ khái niệm trả lại đơn khởi kiện.

  1. Khái niệm trả lại đơn khởi kiện

Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án sau khi xem xét thụ lý vụ án, đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện bởi thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý vụ án.

  1. Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện

Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Đây là trường hợp  người khởi kiện không thuộc trường hợp quy định tại Điều 161, 162 Bộ Luật Tố tụng Dân sự hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng. Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 57 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP đã hướng dẫn về việc “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện” là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.”

Sau khi hết thời hạn được thông báo tạm ứng án phí quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, cụ thể là 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Đối với trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng thì tòa án sẽ không thể lấy căn cứ này để trả lại đơn khởi kiện.

Trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện thì tòa án trả lại đơn khởi kiện. Đây là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó. Ví dụ theo quy định của Luật Đất đai thì đối với các tranh chấp liên quan đến đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì trước khi khởi kiện ra tòa án, vụ việc phải được hòa giải tại cơ sở. Hoặc trường hợp người chồng khởi kiện vụ án ly hôn khi người vợ đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

Khi đối tượng khởi kiện là quyền sử dụng đất thì cần lưu ý một số điều kiện khởi kiện được pháp luật quy định tại Khoản 3, Điều 8 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP như sau:

“a) Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai.

  1. b) Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hoà giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.”

Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là trường hợp không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khi có căn cứ này, tòa án tiến hành thủ tục trả lại đơn khởi kiện cho tòa án. Cần lưu ý rằng đây là trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền theo vụ việc của tòa án chứ không phải trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án.

Người khởi kiện không bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn theo quy định của pháp luật Đây là quy định hoàn toàn mới có ý nghĩa buộc người khởi kiện phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chứng minh ngay từ những bước đầu tiên của quá trình tố tụng tại tòa án bởi các quy định của pháp luật hiện nay đang hướng đến việc đề cao vai trò, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, việc thu thập chứng cứ của tòa án là hạn chế và không phải trường hợp nào tòa án cũng tiến hành thu thập chứng cứ.

Trên đây là nội dung quy định về   các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp cần tư vấn cụ thể, chi tiết cho từng trường hợp liên quan, Quý Khách hàng có thể liên hệ tới Công ty Luật Hiệp Thành để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Trân trọng!
Luật gia Đỗ Trần Khởi
Công ty Luật TNHH Hiệp Thành
0942141668
Email: luathiepthanh@gmail.com

Đối tác